Đồng thau với thiếc là nguyên tố hợp kim chính. Hàm lượng thiếc thường nằm trong khoảng từ 3% đến 14%, và nó chủ yếu được sử dụng để chế tạo các thành phần đàn hồi và các bộ phận chống mài mòn.

Đồng thau với thiếc là nguyên tố hợp kim chính. Hàm lượng thiếc thường nằm trong khoảng từ 3% đến 14%, và chủ yếu được sử dụng để chế tạo các thành phần đàn hồi và các bộ phận chống mài mòn. Hàm lượng thiếc của đồng thau thiếc biến dạng không vượt quá 8%, và đôi khi các nguyên tố như photpho, chì, kẽm và các nguyên tố khác được thêm vào.

Bronze tungsten là một hợp chất không định lượng chứa tungsten. Nó trông giống như đồng nhưng về mặt hóa học thì không phản ứng. Bronze tungsten thường xuất hiện dưới dạng tinh thể lập phương hoặc tứ diện. Nó không tan trong nước và tất cả các axit ngoại trừ axit hydrofluoric, nhưng tan trong các tác nhân kiềm. Nó có thể được sử dụng như một chất xúc tác cho phản ứng oxi hóa carbon monoxide và là một thiết bị thoát khí trong pin nhiên liệu.

Đồng thau tungsten là một hợp chất không tỷ lệ chứa tungsten. Nó trông giống như đồng nhưng về mặt hóa học thì không phản ứng. Đồng thau tungsten thường xuất hiện dưới dạng tinh thể lập phương hoặc tứ diện. Nó không tan trong nước và tất cả các axit ngoại trừ axit hydrofluoric, nhưng tan trong các tác nhân kiềm. Nó có thể được sử dụng như một chất xúc tác cho phản ứng oxi hóa carbon monoxide và một thiết bị khử khí trong pin nhiên liệu.

Đồng thau tungsten là một hợp chất không tỷ lệ chứa tungsten. Nó trông giống như đồng nhưng về mặt hóa học thì không phản ứng. Đồng thau tungsten thường xuất hiện dưới dạng tinh thể lập phương hoặc tứ diện. Nó không tan trong nước và tất cả các axit ngoại trừ axit hydrofluoric, nhưng tan trong các tác nhân kiềm. Nó có thể được sử dụng như một chất xúc tác cho phản ứng oxi hóa carbon monoxide và một thiết bị khử khí trong pin nhiên liệu.

Đồng thau tungsten là một hợp chất không tỷ lệ chứa tungsten. Nó trông giống như đồng nhưng về mặt hóa học thì không phản ứng. Đồng thau tungsten thường xuất hiện dưới dạng tinh thể lập phương hoặc tứ diện. Nó không tan trong nước và tất cả các axit ngoại trừ axit hydrofluoric, nhưng tan trong các tác nhân kiềm. Nó có thể được sử dụng như một chất xúc tác cho phản ứng oxi hóa carbon monoxide và một thiết bị khử khí trong pin nhiên liệu.

< 1...101112...26 >